Wednesday, July 6, 2016

Như Ý Tâm Đà La Ni

Nam-mô Phật-đà-da.
Nam-mô Ðạt-ma-da.
Nam-mô Tăng-dà-da.
Nam-mô Quán-Tự-Tại Bồ-tát ma-ha-tát,

Cụ đại-bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, Ma ha bát đẳng mế,
Rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị,Sa dạ, Hồng phấn ta ha.
Án, Bát đạp ma chấn đa mạt ni, Thước ra hồng. Án bát lặc đà,
Bát đẳng mế hồng.Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện

 Cụ đại-bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, Ma ha bát đẳng mế,
Rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị,Sa dạ, Hồng phấn ta ha.
Án, Bát đạp ma chấn đa mạt ni, Thước ra hồng. Án bát lặc đà,
Bát đẳng mế hồng.Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện
Cụ đại-bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, Ma ha bát đẳng mế,
Rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị,Sa dạ, Hồng phấn ta ha.
Án, Bát đạp ma chấn đa mạt ni, Thước ra hồng. Án bát lặc đà,
Bát đẳng mế hồng.Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện
Cụ đại-bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, Ma ha bát đẳng mế,
Rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị,Sa dạ, Hồng phấn ta ha.
Án, Bát đạp ma chấn đa mạt ni, Thước ra hồng. Án bát lặc đà,
Bát đẳng mế hồng.Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện

Cụ đại-bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, Ma ha bát đẳng mế,
Rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị,Sa dạ, Hồng phấn ta ha.
Án, Bát đạp ma chấn đa mạt ni, Thước ra hồng. Án bát lặc đà,
Bát đẳng mế hồng.Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện

Tuesday, July 5, 2016

LỤC TỰ ĐOẠN TRỪ LỤC ĐẠO KHỔ NẠN TỤNG LỤC TỰ ĐẠI MINH ĐOẠN TRỪ LỤC ĐẠO KHỔ NẠN ÚM MA NI BÁT MINH HỒNG


字断除:六道苦难颂 LỤC TỰ ĐOẠN TRỪ LỤC ĐẠO KHỔ NẠN TỤNG LỤC TỰ ĐẠI MINH ĐOẠN TRỪ LỤC ĐẠO KHỔ NẠN ÚM MA NI BÁT MINH HỒNG

Úm tự phóng quang Chiếu diệu Thiên giới Tử khổ nạn nhẫn Quan Âm cứu độ 嗡嘛呢叭咪吽
Ma tự Quang chiếu A tu la giới Tranh đấu tử thương Quan Âm cứu độ 嗡嘛呢叭咪吽
Ni tự Phóng quang Chiếu sáng Nhân gian Sinh Láo bệnh tử Quan Âm cứu độ
 嗡嘛呢叭咪吽
Bát tự Phóng quang Chiếu sáng súc sinh Ngu câm thống khổ Quan Âm cứu độ 嗡嘛呢叭咪吽
Minh tự Phóng quang Chiếu sáng ác quỷ Cơ ngạ nan ngao Quan Âm cứu độ 嗡嘛呢叭咪吽
Hồng tự Phóng quang Chiếu sáng địa ngục Lãnh nhiệt chiên ngao Quan Âm cứu độ 嗡嘛呢叭咪吽 Phật vi Đạo sư. Pháp vi Chính Đạo Tăng vi Thiện lữ. Đồng vi cứu chủ 嗡嘛呢叭咪吽
Đăng sơn giới thang. Qúa hà Độ thuyền Khu ngu Huệ đăng hiểm ngại thản đồ 嗡嘛呢叭咪吽
Khẩu tụng Chân ngôn. Tâm trung cầu đảo Địa ngục liệt hỏa. Tòng thử tức diệt 嗡嘛呢叭咪吽 Xướng tụng Lục tự Trong lòng phát nguyện Lãnh ngục lãnh tuyết Tiêu tan biến noãn 嗡嘛呢叭咪吽 Tụng trì Lục tự Uy lực Vô tỉ Thập bát địa ngục biến thành Lạc thổ 嗡嘛呢叭咪吽
Thế gian Vô thực.Nhân duyên nan liệu Sinh tử luân hồi Hành Thiện vi yếu 嗡嘛呢叭咪吽
Vạn vật Vô thường Thiện ác giao thế Hướng Thiện tinh tiến. Thất chí bất du 嗡嘛呢叭咪吽
Hà mãn nhân thân.Nan đắc chí bảo Hư độ thử sinh Thực vi khả tích 嗡嘛呢叭咪吽
Tham tâm vô tận.Dục vọng giai không Ác thú nghiệp nhân. Khí chi Tòng Thiện 嗡嘛呢叭咪吽
 Vạn ác phiền não Tội nghiệt Căn nguồn Thời khắc đề phòng phàm phu si niệm 嗡嘛呢叭咪吽 Cường tráng thân khu Nhập thổ hoang dã Khu tẩu tử thần Thượng Sư dẫn lộ 嗡嘛呢叭咪吽
Ma Ni tụng trì Hỗ Chủ Tam Bảo Nặc ngôn Hoạt Phật thuận khẩu biện xướng 嗡嘛呢叭咪吽
Kiền thành đính lễ Quan Âm Bồ Tát Tiêu trừ tội nghiệt. Tốc chứng Phật quả 嗡嘛呢叭咪吽
Như Lai Phật Tử từ bi dẫn lộ Chúng sinh Vãng sinh Cực Lạc Phật thổ 嗡嘛呢叭咪吽
ÚM MA NI BÁT MINH HỒNG 佛 心 卍
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 卍心佛 佛 卍
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 卍佛 佛卍
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 卍 佛 佛卍

NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TIÊU TAI GIÁNG PHÚC 卍佛 

Wednesday, June 15, 2016

NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM BẢO KIẾP ẤN ĐÀ LA NI KINH


  • NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM BẢO KIẾP ẤN ĐÀ LA NI KINH.

    Kinh Nhứt Thiết Như Lai Tâm

    Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Kiếp Ấn Đà-Ra-Ni

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. 

    -Bồ Tát Kim Cang Thủ.

    -Bà La Môn Vô Cấu Diệu Quang. 
    -Chúng Đệ Tử Tỳ Kheo…

    Một thời nọ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại nước Ma-Già-Đà cùng chúng Đệ Tử, ứng lời thỉnh cầu vị Đại cư sỉ Bà La Môn Vô Cấu Diệu Quang, đến nhà ông ấy thọ nhận cúng dường. Phật cùng Đại Chúng trên đường đi, đến nơi Vườn Phong Tài, nơi đây có một Tháp Mục. Lúc bấy giờ Thế Tôn đi đến đảnh lễ Tháp Mục kia, nhiễu quanh bên hữu ba vòng và lấy Y-Ca-Sa của mình cúng dường lên Tháp Mục. Thế Tôn mỉm cười, từ nơi Tháp Mục kia xuất hiện rất nhiều diệu quang bay vọt lên hư không hoá hiện vô lượng vô biên Chư Phật, cùng phóng vô lượng hào quang.
         Lành thay, lành thay, các hạnh làm ngày nay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni  đã làm cảnh giới cực thiện.
         Lúc bấy giờ Ngài Kim Cang Bồ Tát thưa hỏi:
         Bạch Đức Thế Tôn, đây bất quá chỉ là đống đất bình thường thôi mà, cớ chi Đức Như Lai rơi lệ như thế, vì sao mười phương Chư Phật đều phóng tướng hào quang lớn tốt lành như thế. Kính xin Đức Thế Tôn khai thị cho.
         Này Kim Cang Thủ! Đây không phải là đống đất bình thường đâu, vì Nhứt Thiết Như Lai Tâm BẢO KIẾP ẤN ĐÀ-RA-NI nay ở trong ấy. Đồn đất này có tích chứa mật ấn pháp yếu ĐẠI TOÀN THÂN XÁ LỢI CỦA NHƯ LAI  trong Bảo Tháp này. Tất cả Như Lai vô lượng cu chi, Tâm Đà-Ra-Ni Mật Ấn Pháp Yếu cũng ở tại trong ấy. Vì vậy Tháp này biến thành XÁ LỢI BẢO THÁP.
         Thật mầu nhiệm thay ! Kính xin Đức Thế Tôn khai thị công đức thù thắng của Bảo Kiếp Ấn Đà-Ra-Ni kinh cho chúng sinh được lợi ích.
         Nếu có người đọc tụng Bảo Kiếp Ấn Đà-La-Ni kinh này, tức bằng đọc tụng tất cả hết thảy quá khứ hiện tại cùng vị lai Kinh Điển của Chư Phật Thuyết.
         Do vì đọc tụng kinh này, nên Thập Phương Nhứt Thiết Như Lai, bất phân ngày đêm hiện thân gia trì cho người đó. Rất nhiều các Đức Như Lai hiện thân, cho đến vây kín khắp cả hư không, không một chỗ hở. Vô lượng Chư Phật Như Lai như thế, số trước tụ tập chưa đi, số sau trùng trùng lại đến, phút chốc đi rồi lại đến, nhiều đến vô lượng.
         Đời sau, nếu có người biên chép kinh này để trong Bảo Tháp. Tháp đó tức là KIM CANG TẠNG suất đổ ba của hết thảy Như Lai, cũng là BÍ MẬT TÂM ĐÀ-RA-NI, là PHẬT ĐẢNH, là PHẬT NHÃN. Suất đổ ba của hết thảy Như Lai, tức là chín mươi chín trăm ngàn vạn cu-chi Như Lai Đại Thần Lực gia hộ.
         Nếu trong Phật Tượng, trong Tháp nhiều tầng mà an trí kinh này, tức như tượng tháp kia do bảy báu mà thành, linh nghiệm ứng tâm, không nguyện gì mà không viên mãn.
         Nếu có chúng sanh nào tạo Tháp, bất luận lớn nhỏ và để BẢO KIẾP ẤN ĐÀ-RA-NI bên trong, Tháp đó sẽ tự thành THÁP BẢY BÁU. Vì oai lực của Thần Chú nên Tháp vọt cao đến cung trời SẮC CỨU CÁNH. Hết thảy tất cả các Thiên Giới mà Tháp vượt qua, Chư Thiên ngày đêm chiêm ngưỡng, lễ bái, thủ hộ cúng dường.
    Bạch Đức Thế Tôn,vì sao Tháp này thù thắng như thế?
    Đây tất cả là vì oai Thần Lực của BẢO KIẾP ẤN ĐÀ-RA-NI. Hãy lắng nghe, ghi nhớ và chớ quên lãng!
         Hiện tại cùng vị lai tất cả Như Lai, PHÁP, BÁU, HÓA tam thân ấy, cùng TOÀN THÂN XÁ LỢI CHƯ PHẬT quá khứ hết thảy đều ở tại BẢO KIẾP ẤN ĐÀ-RA-NI.
       Cúi xin Đức Thế Tôn vì chúng con, Thuyết Đà-Ra-Ni ấy.
    Na Mô Tát Đát Lị Dã, Địa Vĩ Ca Nẩm Tát Bà Đát Tha Nghiệt Đa Nẩm. Úm Bộ Vĩ Bà Phạ Na Phạ Lị, Phạ Dã Lê Phạ Dã Trai, Tô Rô Tô Rô, Đà Ra Đà Ra, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa, Đà Đổ Đà Lê Bát Na Mẫu Bà Phạ Đế Nhạ Dã Phạ Lê, Mẫu Đát Lê Tát Ma Ra Đát Tha Nghiệt Đa. Đạt Ma Chước Ca Ra Bát La Mật Lật Đa. Na Phạ Nhật La Mạo Địa Mẩn Noa, Lăng Ca Ra Lăng Hật Rị Đế, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa, Địa Sắc Xỉ Đế. Mạo Đà Giã Mạo Đà Giã, Mậu Địa Mậu Địa. Một Đình Giã Một Đình Giã. Sám Mạo Đà Nể, Sám Mạo Đà Giã. Giã Lã Giã Lã, Giã Nại Đô Tát Phạ, Phạ Ra Noả Nể, Tát Phạ Bá Ba Vĩ Nghiệt Đế. Hộ Rô Hộ Rô Tát Phạ Thú Ca Nhị Nghiệt Đế, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa. Hất Rị Ra, Tam Bà Ra, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa. Ngu Hế Giã Đà Ra Ni Mẫu Niết Lê, Ra Một Duệ, Tô Một Đệ, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa. Hật Phạ Hạ, Tô Bát La Để, Sắc Xỉ Sa Đa Tát Đổ, Bế Đát Tha Nghiệt Đa. Địa Sắc Xỉ Đế, Hộ Rô Hộ Rô, Hồng Hồng Ta Phạ Hạ. Úm Tát Phạ, Đát Tha Nghiệt Đa, Ổ Sắc Xỉ Sa Đà Đổ Mẫu Nải Ra, Ni Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đơn, Ta Đà Đổ Vĩ Bộ, Sử Đa Địa Sắc Xỉ Đế, Hồng Hồng Soá Ha.
       Đời sau, vào thời mạt pháp sau này nếu trong bốn chúng đệ tử có thiện Nam tín Nữ nào vì đạo vô thượng mà tận lực tu tạo bảo tháp, an trí Thần Chú. Thời công đức tạo được nói không thể cùng tận.
       Nếu có người cầu phước đến chỗ Tháp kia, đem một cành hoa thơm, một nén hương quí, lễ bái cúng dường, nhiễu quanh hành đạo. Do công đức ấy quan quyền vinh hiển, không cầu mà tự đến, sống lâu, giàu có không mong mà tự tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự chạy, oán niệm trù rủa không ếm mà tự trở về gốc, dịch bệnh tà khí không lánh mà tự tránh, chồng hiền vợ thảo không cầu mà tự được, hiền nam mỹ nữ không cầu mà tự sanh, tất cả sở nguyện tuỳ ý mãn túc.
       Bấy giờ Đại Chúng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di, Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Người và Phi Nhơn. Tất cả Đại Chúng đều đại hoan hỷ, Tín Thọ Phụng, Hành.
    Đây là kinh toàn thân xá lợi bảo kiếp ấn đà la ni. mình thấy kinh này đức phật thuyết giảng vì lợi ích của chúng sanh. Có được nhân duyên đọc được kinh này và thấy được lợi ích của kinh nên mình up lên để các đạo hữu đọc. và mong rằng kinh này sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho mọi người.
    NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT.
     
    NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM BẢO KIẾP ẤN ĐÀ LA NI KINH.


Tuesday, June 14, 2016

KINH KIM-CANG THỌ-MẠNG

KINH KIM-CANG THỌ-MẠNG
Tịnh Thất Liên HoaMỹ Tho ấn hành -  PL 2518 - 1974

---o0o---

Lời kỳ nguyện:
Nay chính là ngày chư Tăng kiết hạ, đem đức lành chú nguyện chúng sanh, chúng con một dạ chí thành, cúng dường trì tụng, đem công đức này, nguyện khắp mười phương, ba ngôi Tam-Bảo, đức Thích Ca Mâu-Ni Phật, đức tiếp dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, cùng các vị Bồ Tát, Tịnh đức chúng Tăng, từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời của chúng con, cùng tất cả chúng sanh, sớm rõ đường lành thoát vòng mê muội, ra khỏi u-đồ siêu sanh lạc quốc. Ngưỡng mong oai đức vô cùng, xót thương tiếp độ.
Nam mô thập phương thường trú Tam-Bảo ( 3 lần )

ÐỨNG DẬY XƯỚNG LỄ :
Ðại từ đại bi thương chúng sanh
Ðại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
Ðệ tử chí tâm quy mạng lễ.

Nhất tâm đảnh lễ:   Tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai, thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trú Tam-Bảo. (1 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ:  Ta Bà Giáo Chủ Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ðương Lai Di Lặc Tôn Phật, Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ:   Tây Phương Giáo Chủ Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (1 lạy)
Tụng:Kim lư vừa bén chiên đàn.
Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương.
Hiện thành mây báu cát tường.
Các Phật rõ biết ngọn hương chí thiền.
Pháp-thân toàn thể hiện tiền.
Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát ma-ha tát ( 3 lần )
Nam mô Ðại bi hội thượng Phật Bồ tát  ( 3 lần )
Thiên-thủ thiên-nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la ni :
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da . . . . . . . .
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta bà ha ( 3 lần )
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần )

KHAI KINH KỆ:

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp
Con nay thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chơn thật Như-Lai
Nam Mô Khai Bảo Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần )
 
Phật nói kinh:
“NHẤT THIẾT NHƯ-LAI KIM  CANG
THỌ MẠNG ÐÀ-LA-NI”
( Nước Nam Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Kim Cang Trí cùng Ngài Sa Môn Trí Tạng vâng chiếu dịch )
Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, Phật ở bên sông Tăng già, với các Tỳ-Kheo và đại Bồ-Tát cùng vô lượng đại chúng trời người đến hội họp .
Lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo bốn vị Thiên Vương hàng Tỳ-Sa-Môn rằng:
Có bốn pháp rất đáng ghê sợ, dù nam dù nữ, đồng nam đồng nữ, tất cả hữu tình không ai tránh khỏi. Bốn pháp ấy là: Sanh, già, bệnh, chết. Trong đó có một pháp rất tức tối đau khổ, khó bề đối trị, gọi là sợ chết. Vì vậy ta thường nói pháp đối trị .
Khi ấy, bốn vị Thiên-Vương bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn. Chúng con ngày nay, mong được lợi lớn, xin Ðức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh tuyên nói pháp ấy” .
Bấy giờ Ðức Thế Tôn xây mặt hướng Ðông, Ngài búng ngón tay, triệu tập tất cả các Ðức Như-Lai nói lời thệ rằng: “Khắp cả mười phương, các Ðấng Như-Lai thành chánh đẳng-giác, vì độ chúng sanh, chứng đạo Bồ- Ðề thảy đều giúp ta, đem sức oai thần tất cả Như-Lai, khiến cho tất cả chúng sanh, đổi nghiệp phi-mạng, tăng thêm thọ mạng. Từ trước ta chưa vì chúng sanh chuyển pháp luân này đến nay mới chuyển, có thể khiến cho sắc lực và thọ mạng của chúng sanh, đều được thành tựu khỏi sợ chết yểu”.
Lại hướng qua các phương Tây, Nam, Bắc, bốn góc trên dưới, Ðức Thế Tôn cũng đều triệu tập kỉnh cáo như thế. Lúc ấy bao nhiêu thế giới mười phương, tột chỗ mắt Phật thấu đến, tất cả các Ðức Như-Lai, thảy đều đến hội họp đầy cả hư không như số vi trần.
Bấy giờ tất cả chư Phật, vì sự gia trì khác miệng chung lời, đều nói Ðà-La-Ni: “Nhất Thiết Như-Lai Kim- Cang Thọ Mạng” rằng:
“ÐÁT NỄ GIÃ THA, GIÃ LÊ, GIÃ LÃ, GIÃ LÊ, VĨ NÔ CHỈ TÁT PHẠ, TÁT ÐỂ, KHỂ CHIẾT NGẬT LÃNG, NGHIỆT NẪM, BÁT RA, XÁ MÃN ÐÔ, TÁT PHẠ LỘ, NGA TÁT PHẠ, TÁT ÐÁT PHẠ, NẪM A NÔ LAI, CU NÔ LAI, MA HA NÔ LAI, GIẢ MÊ GIẢ MÊ, HỆ MẠ NGHIẾU RÍ, HỆ MẠ SẢN NI, HỆ MẠ THI KHÍ, KIÊU RA VÍ, KIÊU RA THOAN, HỆ CU RA VI, CU RA LÊ, CU MẠ ÐỂ, VI XÁ MẠ NÍ MẠ NÍ, THÚ THÚ TỲ, PHẠ A GIẢ LÊ, DĨ GIẢ LÊ, MẠ VỈ LÃM MẠ, HỘ MỘ HỘ MỘ. ÁN PHẠ RA, DỤ LỆ TÁT PHẠ HẠ”.
Lúc bấy giờ, tất cả Chấp Kim-Cang Bồ Tát, ở chỗ chư Phật mười phương, khác miệng chung lời, đều nói Ðà-La-Ni Diên Thọ rằng:
“HỒNG HỒNG THI KHÍ TÁT PHẠ HẠ”
Như vậy, tất cả các Ðức Như-Lai và các vị Chấp Kim-Cang Bồ Tát trong mười phương đều nói Ðà-La-Ni này, rồi không thị hiện ra nữa .
Lúc đó, vị Tỳ Sa-Môn Thiên-Vương bạch Phật rằng: nương thần lực của Phật, để gia trì hộ niệm, trừ nghiệp phi-mạng cho tất cả chúng sanh, con xin nói Ðà-La-Ni rằng:
“THI VI ÐẾ, THI VI, ÐÁT LỴ LẬT LỴ”
Lúc đó, vị Tỳ-lâu Lặc-Xoa Thiên Vương cũng bạch Phật rằng: nương thần lực của Phật, để trừ nghiệp phi-mạng cho nhiều chúng sanh, con xin nói Ðà-La-Ni rằng: “MA ÐẮNG NGHỂ, MA ÐẮNG NGHÊ NI, DU MA DU MƯU”.
Lúc đó, vị Ðề-đầu Lại-Tra Thiên-vương cũng bạch Phật rằng: cũng để trừ nhgiệp sợ chết cho các chúng sanh, con xin nói Ðà-La-Ni rằng:
“GIẢ RỄ GIẢ RỄ, GIẢ RA NÍ”.
Lúc đó, vị Tỳ-Lâu Bát-Xoa Thiên Vương cũng bạch Phật rằng: nương thần lực của Phật, để trừ nghiệp phi-mạng cho tất cả chúng sanh, con xin nói Ðà-La-Ni rằng:
“MẠT LÂM, PHẠ-PHẠ, PHẠ-PHẠ”.
Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng:
“Nếu ai đọc tụng kinh nầy, hằng ngày thọ trì dù cho một biến, phải nên cung kính các thiện-nam tín-nữ ấy, nên tưởng như Phật, sau không đọa nơi ba đường dữ, quyết được tăng thêm thọ mạng .
Nếu người nào thường ngày, vì tất cả chúng sanh luân chuyển tụng kinh nầy, thì sau không còn có sợ mạng ngắn, chết yểu; cũng không còn mộng thấy điềm dữ, yêu tinh nguyền rủa, và hình bóng hung ác, la-sát quỷ thần, cũng không bị tai nạn: nước, lửa và độc họa binh đao. Sẽ được tất cả chư Phật, Bồ-tát nhiếp thọ hộ niệm, xứ sở đó cũng được chư Phật hộ trì” .
Khi Ðức Thế Tôn nói kinh này xong, các vị Tỳ-Sa-Môn Thiên Vương cùng tất cả đại chúng đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành .
Phật nói kinh: “NHẤT THIẾT NHƯ-LAI KIM CANG THỌ MẠNG ÐÀ-LA-NI”  HẾT  ./ . .

TÁN :    Kim cang thọ mạng.
Lời Phật thân tuyên.
Ðà-La môn tỏ nghĩa u-huyền.
Tụng chú Ðức Kim-Tiên.
Pháp lực vô biên.
Tuổi thọ được tăng diên.
Nam Mô Tăng Thọ Toán Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần )

 TÁN : Phật từ rộng lớn.
Cảm ứng không ngoa.
Tịch-quang chánh-định khắp hà-sa
Nguyện chẳng lìa già-da.
Tế độ trai gia.
Ðất báu trổ liên-hoa
Nam mô tiêu tai tăng phước thọ Bồ Tát Ma Ha tát(3lần)

CÔNG ÐỨC BẢO SƠN ÐÀ RA NI

Nam Mô Phật Ðà da
Nam Mô Ðạt Ma da
Nam Mô Tăng Già da
Úm tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.
(Chữ hộ cũng nói là hồ, đô cũng đọc là độ, chỉ cũng đọc giá, ba cũng đọc bà, lị cũng đọc nĩ khứ thinh.)
Kinh Ðại Tập nói: Nếu người tụng chú này một biến, như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn  bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.
GIẢI: Tạo tội hơn mười sát độ ấy, nghĩa là tội đã tạo quá hơn mười thế giới vi trần; kiếp hết lại sanh, nghĩa là cõi Ta Bà thế giới này khi đã hoại diệt, tội kia chưa hết, liền gởi sanh trong địa ngục ở thế giới phương khác. Cõi này thành rồi đời người tội nhơn kia trở về trong địa ngục phương này mà chịu khổ báo.

QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN

Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Ðà Ra Ni nói: Nếu người tụng chú này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng , ngũ nghịch, hủy báng kinh Phương Ðẳng, tội nhứt xiển đề, hết thảy các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo tất cả các tội Vô gián, nếu được gặp người trì chú này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình, mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư không tụng Chơn ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng tội, đều được lợi lạc.
Chơn ngôn: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.
(Ca hoặc nói hát nê, hoặc nói nhĩ nĩnh, hoặc nói nễ.)
GIẢI: Nếu muốn lược tụng, chỉ trì từ chữ Úm trở xuống, chữ Úm trở lên là lời quy kính, chánh chú là từ chữ Úm. Nếu chép Chơn ngôn Phạn tự này trên chuông, trống, khánh v.v… tất cả những vật có ra tiếng, các chúng sanh nghe tiếng kia thảy đều thanh tịnh, mạng chung được sanh về Tây phương Tịnh độ.

-         Úm ma ni pát mê hum.
-         Úm ma ni bát di hồng.
-         Úm ma ni pết nạp minh hồng.

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương nói: Khi bấy giờ đức Quán Tự Tại Bồ Tát nói Thần chú Ðại Minh này, bốn đại bộ châu và cung điện của các cõi trời, thảy đều rung động, nước bốn biển lớn, nổi sóng ào ạt. Hết thảy các ma làm việc chướng ngại đều sợ hãi chạy trốn tản mất.
Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu người nào thường hay thọ trì chú Ðại Minh này, ở lúc trì tụng có 99 căn già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ Tát tập hội, lại có vô số Thiên Long, Bát Bộ đến để hộ vệ người ấy. Người trì tụng Thần chú này bảy đời dòng họ đều sẽ được giải thoát, trong bụng có các loài trùng sẽ được địa vị bất thoái chuyển của Bồ Tát. Nếu đeo trì trong thân trên đảnh, có người được thấy người đeo trì ấy cũng như đồng thấy thân Kim Cang của Như Lai. Nếu hay y pháp niệm tụng, tức được vô tận biện tài, ngày ngày thường đủ sáu Ba la mật, viên mãn công đức. Nếu trong miệng hơi thở ra chạm vào người nào, người đó liền khởi tâm lành, xa lìa các sân độc, sẽ được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Người đeo trì giữ gìn chú này, lấy tay rờ đến người nào, hoặc lấy đôi mắt liếc nhìn đến các loài dị loại, các hữu tình, thảy đều mau được địa vị Bồ Tát. Người như vậy vĩnh viễn không thọ các khổ sanh, lão, bịnh, tử. Lại nữa Phật nói: Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng kia được, cho đến nước đại hải ta có thể biết số lượng kia. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh một biết, đã được công đức mà ta không thể đếm tính số lượng, giả như trong bốn đại châu, tất cả kẻ nam nữ đều chứng được địa vị Thất Ðịa Bồ Tát, công đức đã có cùng với người niệm Lục Tự Ðại Minh một biến mà công đức không sai khác. Nếu có  người viết chép Ðại Minh này, đồng với viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu lấy kim bảo cõi trời tạo hình tượng của các đức Như Lai số như vi trần, không bằng chép viết một chữ trong sáu chữ Ðại Minh này, chỗ thu hoạch công đức quả báo không thể nghĩ bàn, người ấy sẽ được 108 món Tam ma địa môn. Chỉ niệm một biến sẽ được tất cả Như Lai đem y phục, ẩm thực, thuốc thang và đồ ngồi nằm đầy đủ tất cả để cúng dường. Pháp này ở trong Ðại Thừa rất là tối thượng, tinh thuần vi diệu. Tất cả Như Lai và các Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ.
Khi nói sáu chữ Chơn ngôn này, có bảy mươi trăm ức các đức Như Lai đều đến tập hội, đồng nói: Thất Cu Chi Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni. Vậy nên biết sáu chữ Chơn ngôn cùng với Chuẩn Ðề Chơn ngôn đầu đuôi tương tu. Như muốn cùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn đồng tụng ấy, có thể ở trước Chuẩn Ðề Chơn ngôn niệm tụng. Song cần yếu hiệp hai chữ nạp minh làm một chữ mới phù hợp Phạn âm. Hoặc muốn riêng trì tụng, công đức như trên đã nói. Nếu muốn như pháp kiết đàn niệm tụng rõ như bản kinh văn, đây không chép hết.

Chơn ngôn “Hật Rị”.
Om A Mi Tabha Hrih.
Úm A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha.
Câu chú này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum (Hồng). Căn cứ theo chư sư truyền lại, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và thêm chữ Ta Ha cũng được.
Kinh dạy: Chữ Hật Rị (HRIH) Ðủ bốn chữ thành một Chơn ngôn. Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA tự  môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn, là tự tại bất khả đắc, hai điêm ác tự nghĩa. Chữ Ác gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh. Chữ Hật Rị này cũng nói làm tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều bất thiện vậy. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy. Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.
Do gia trì chữ Hật Rị này mà ở thế giới Cực Lạc, nước, chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn ngôn này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sauk hi chết sẽ sanh về cõi An-Lạc quốc, được thượng phẩm thượng sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại tâm Chơn ngôn của người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các bộ Du Già vậy.


-         A ra bạt giả na.
Kim Cang Ðảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người vừ tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị  Vi Ðà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh tử trọng tội. Nếu tụng ba biến tạm muội hiện tiền. Nếu tụng bốn biến được tổng trì bất vong. Nếu tụng năm biến mau thành Vô thượng Bồ đề. Nếu người nhứt tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng đàn pháp, y pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói pháp yếu, khi bấy giờ người tu hành được túc mạng trí, biện tài vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước trí đầy đủ, mau chưóng Như Lai pháp thân. Chỉ có tín tâm thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh giác.
GIẢI: (Muốn làm phép gia trì kiết giới, rõ như Ngũ Tự Tâm Ðà Ra Ni phẩm.)


Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa nẫm, Úm vĩ bổ lã nghiệt bệ, mạ nĩ bát ra bệ, đát tha đa nễ nại xả nĩnh, mạ nĩ mạ nĩ, tô bát ra bệ, vĩ mạ lê, ta nghiệt ra, nghiễm tỷ lệ, Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, một đà vĩ lô chỉ đế, hủng đế dạ địa sắc sỉ, đa nghiệt bệ, ta phạ ha.
Tâm chú: Úm ma nĩ phạ nhựt ra hồng.
Tùy tâm chú: Úm ma nĩ đà lị hồng phấn tra.
Chú này trước sau có ba nhà dịch, bản dịch ban đầu bị mất, người tên Khai Nguyên lục chép ra vào đời Lương Trung Hoa, sau Ngài Bồ Ðề Lưu chỉ dịch, đến lượt thứ ba Ngài Bất Không Tam Tạng dịch. Nay sợ người mới học khổ nỗi Phạn âm, nên mới giảo đính lại cả ba bản dịch, chép ra chính bản văn của Ngài Bất Không Tam Tạng, còn chữ của hai bản dịch kia không đồng, nên bản này rõ hơn, để cho người tu tập âm giọng không còn nghi trệ.
Kinh dạy rằng: Ðà Ra Ni này có đại oai đức. Phật do đây thành đạo, do đây hàng ma, hay diệt ác chướng hay thành lục độ. Nếu chép nơi chuông, trên điện, trên lụa, vải, trên giấy, trên vách tường, bảng v.v… những vật trên đó có các chúng sanh mắt tạm được thấy. Hoặc thân tay chạm đến, hoặc chói qua trong hình bóng và các người khác đụng chạm đến người này, hoặc mang nơi thân, hoặc đeo nơi đảnh, hoặc chép nơi trên vật có tiếng, hoặc người nghe thấy tiếng ấy, hoặc người đọc tụng, hoặc chỉ nghe tên Ðà Ra Ni này, những chúng sanh như vậy, dù có những tội tứ trọng, ngũ nghịch thập ác, thảy đều tiêu diệt, quyết định sẽ chứng đắc Vô thượng Bồ đề, hay ở nơi hiện đời được vô lượng trăm ngàn công đức, thường được quốc vưong, tể quan, bốn chúng cung kính vui mừng, không thọ thế gian các thứ khổ não, độc dược, dao gậy, các nạn nước lửa, tất cả các ác thú như sư tử, cọp, sói không dám làm hại. Lại không bị các nạn trộm cướp, các độc xà, các tà thần, quỷ mị. Hiện thân không thọ  tất cả các bịnh: nghĩa là bịnh rét, bịnh mắt, bịnh tai, bịnh mũi, bịnh lưỡi, bịnh răng, bịnh môi, bịnh yết hầu, bịnh đầu, bịnh cổ. Các bịnh của chi phần: Bịnh tay, lưng, hông, rún, trĩ, đái sưng, lị, nhọt rò, nhọt, đầu gối, gót chân, mụn con, ban, dạ dày, ghẻ lở, sẹo, lác, hắc lào, hết thảy các bịnh như vậy không dính vào thân. Không bị trù rủa, yếm đảo độc trùng, chú trớ, thư nộp, mà dính nơi thân, không bị tai hoạnh mà chết. Nằm ngủ yên ổn, thức thì an vui, ở trong chiêm bao mộng thấy trăm ngàn cõi Phật. Cùng thấy chư Phật và Bồ Tát đoanh vây chung quanh, khi mạng gần chết tâm không tán loạn, tất cả chư Phật hiện ra trước mặt an ủi. Lại tất cả các loài bàng sanh như nai, chim, mòng, muỗi, trùng, kiến, ong bướm cho đến thai noãn, thấp, hóa, các loài hữu tình nghe danh Ðà Ra Ni này, hoặc thân chạm xúc, hoặc trong bóng ngã qua, quyết định sẽ đắc Vô thượng Bồ đề.
Lại có người nào trên đảnh núi cao, tụng Ðà Ra Ni này, tầm mắt phóng thấy tận đến chỗ nào, tất cả chúng sanh ở nơi ấy đều được diệt trừ tất cả tội nghiệp (rộng như trong kinh đã dạy.)

Nam Mô Phật Ðà da
Nam Mô Ðạt Ma da
Nam Mô Tăng Già da
Úm tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.
(Chữ hộ cũng nói là hồ, đô cũng đọc là độ, chỉ cũng đọc giá, ba cũng đọc bà, lị cũng đọc nĩ khứ thinh.)
Kinh Ðại Tập nói: Nếu người tụng chú này một biến, như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn  bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.
GIẢI: Tạo tội hơn mười sát độ ấy, nghĩa là tội đã tạo quá hơn mười thế giới vi trần; kiếp hết lại sanh, nghĩa là cõi Ta Bà thế giới này khi đã hoại diệt, tội kia chưa hết, liền gởi sanh trong địa ngục ở thế giới phương khác. Cõi này thành rồi đời người tội nhơn kia trở về trong địa ngục phương này mà chịu khổ báo.


-         Úm Á Hồng
-         Úm A Hum
-         Án dạ hồng.
Du Già Ðại giá Vương kinh nói: Chữ Úm là Ðại Biến Chiếu Như Lai tức Phật Tỳ Lô Giá Na. Chữ Á là Vô Lượng Thọ Như Lai, tức Phật A Di Ðà. Chữ Hồng là A Súc Như Lai, tức Bất Ðộng Phật. Ðức Như Lai nhơn ở trong nhiều năm tu trì hành đạo không đắc Bồ đề, sau tu tập quán tưởng này, trong khoảng nửa đêm liền thành Chánh giác. Nghĩa là chữ ÚM gồm đủ vô lượng pháp môn, là mẫu của tất cả Chơn ngôn (Thần chú). Tất cả Như Lai đều nhơn quán tưởng chữ này mà được thành Phật. Chữ A (hay Á) là Tỳ Lô Phật thân, cũng là pháp giới, cũng là Bồ đề tâm. Nếu người tưởng niệm, hay sanh vô lượng công đức. Chữ Hồng tổng nhiếp Kim Cang bộ, tất cả Chơn ngôn (Thần chú) là chủ thân Kim Cang bộ, cũng là ba môn giải thoát. Nếu thường tưởng niệm, hay trừ tất cả tội chướng, thành tựu tất cả công đức. Ba giải thoát môn: 1- Không giải thoát môn, 2- Vô tướng giải thoát môn, 3- Vô nguyện giải thoát môn. Căn bản các hạnh của đại Bồ Tát từ sơ phát tâm đến “Nhứt thiết trí”.
Chư Giáo Quyết Ðịnh Danh Nghĩa Luận nói: Chữ Hồng tức Pháp thân, chữ A tức Báo thân, chữ Úm tức Hóa thân. Ba chữ như vậy nhiếp cả ba thân này, để phân biệt nói tam thừa và đạo giải thoát, ấy là nhơn chánh thuyết, nói có Thanh Văn, Duyên Giác và Nhứt thiết trí. Do trí xuất hiện nói tất cả pháp, tức ba chữ kia cũng là Kim Cang tam nghiệp, như thật an trụ; nghĩa là Úm – A - Hồng. Trong chữ Úm này, là Kim Cang thân nghiệp, chữ A Kim Cang ngữ nghiệp, chữ Hồng Kim Cang tâm nghiệp. Lại nữa, chữ Hồng là tâm trí giác liễu (rõ thấu tất cả) tất cả pháp như trên đã nói. Phải biết tất cả văn tự đều từ chữ Úm A Hồng ba chữ mà ra, do đó nên các pháp khởi lên các tướng phân biệt tất cả pháp kia, đều cùng Úm – A hai  chữ trước sau nhiếp nhau. Chữ Hồng trong đây, xuất sanh tất cả, ở trong ba cõi, xuất hiện các sắc; nghĩa là có Thiên, Nhơn, Long, A tu la, Ca lầu la, Khẩn Na La, Càn thác bà. Thành tựu Trì Minh Thiên, Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Ô Ma Thiên, Ðế Thích Thiên, Phạm Vương Thiên, Na La Diên Thiên, Ðại Tự Tại Thiên, những trời như vậy, và Thiên hậu đã có tất cả trong cõi hữu tình kẻ nam tử, người nữ nhơn cho đến hết thảy các Phật, Bồ Tát đều từ chữ Hồng này xuất sanh biến hóa, kia mỗi một tâm, trụ tướng chữ này, nếu khi tâm tưởng chữ này, phải trụ nơi hư không, xuất sanh ra vô ngại, nghĩa là tâm ba cõi, đồng một tâm này, được nhập vào tâm rồi, tức được gọi là hiện chứng Bồ đề, phải biết tâm này là vô đẳng, vô thủ, vô trước, vô trụ, vô biểu, vô tướng, tức là hư không bình đẳng tất cả trí vô sở đắc, tương ưng không tự, không tha, tương ưng chánh hạnh. Thế gian đã có Chiên đà la tối hạ chủng tộc v.v… các loại kia cũng bình đẳng các hạnh cho đến các loại súc sanh, kia đã có hạnh, các hạnh sai khác. Các hạnh như vậy, tuy lại sai khác, đều cũng không lìa nhứt thiết trí, trí tương ưng chánh hạnh v.v…
Thành Phật Nghi Quỹ tụng rằng:
Do tụng chữ Úm này, gia trì oai lực vậy.
Dù quán tưởng không thành, nơi các Phật hải hội.
Các cúng dường mây biển, chơn thật đủ thành tựu.
Do chư Phật chắc thật, pháp nhĩ đã thành vậy.
Do vừa tụng chữ Á, diệt sạch các tội chướng.
Ðược các vui ý lạc, đồng đẳng tất cả Phật.
Vượt hơn các chúng ma, không thể làm chướng ngại.
Ðáng thọ các thế gian, rộng nhiều thứ cúng dường.
Do gia trì chữ Hồng, cọp sói các trùng độc,
Ác tâm người chẳng người, không còn thể khuấy phá.
Như Lai mới thành đạo. Nơi dưới cội Bồ đề.
Dùng Ấn Mật ngôn này, phá dẹp chúng Thiên ma.
Kinh Ðại Phật Ðảnh Ðà Ra Ni nói: Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, miệng tụng Thần chú, còn có 8 vạn 4 ngàn na do tha hằng hà sa trăm ức, Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát chủng tộc. Mỗi vị đều có các chúng Kim Cang làm quyến thuộc. Ngày đêm thường theo hầu hạ ủng hộ, người này dù cho ma vương rình tìm phương tiện, trọn không thể được, các Thần quỷ núi đi cách xa người thiện nhơn này, ngoài mười do tuần. Nếu có quyến thuộc của ma muốn tìm đến phá rối người thiện ấy, các chúng Kim Cang lấy chày Bảo xử đập nát cái đầu kia cũng như hạt bụi, hằng khiến người này việc làm như nguyện.
GIẢI: Như trên tu trì bi kỉnh các Chơn ngôn, nếu không thể mỗi mỗi tụng trì chép tả ấy, thì tất cả việc làm hết thảy đều dùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn cũng được. Vì Chuẩn Ðề Chơn ngôn giống như châu ngọc như ý, nếu người tu hành trì tụng nơi chỗ dùng đó, đều được thành tựu. Như trên tụng trì Chơn ngôn, hay diệt ngũ nghịch, thập ác, tứ trọng tội ấy. Phải biết tội có Tánh tội và Giá tội, sám hối phải đủ Sự Lý. Tánh thời không luận thọ giới hay không thọ giới, làm là có tội. Giá (ngăn) nghĩa là tăng thọ Phật giới, tâm hủy phạm. Sự, cần phải trình bày phát lồ, lễ Phật danh kinh, tu hành các nghi Phương Ðẳng, để hàng phục cội gốc của nghiệp. Lý, nghĩa là chuyên quán thật tướng, đạt tội tánh không, diệt nghiệp căn nguồn. Các Chơn ngôn Thần chú này, nếu hay y pháp tụng trì, tức song vận cả Sự Lý, nguồn tội gốc nghiệp liền tiêu. Nếu phạm cấm giới, căn cứ theo luật nói sám hối, gia thêm Thần chú, thời Sự Lý gồm đủ, Tánh Giá đều tiêu hết không sót. Không thể vừa nghe công lực của Thần chú như thế, liền trái phạm cấm giới, không y luật sám hối thì giá tội cũng phải còn. Hoặc nhờ nương Nghi Quỹ Chơn ngôn lại tạo thêm các lỗi. Thí như người ngu, ỷ thế lực của vua, rộng tạo các ác, họa trọn đứt đầu. Nghiệp tâm không dứt, tội thật khó trừ, quyết khiến thân tâm đều tiêu, mới được diệt tội, như ánh mặt trời sương mù tiêu tan.


Nói về tràng chuỗi, để tâm ghi nhớ cho người sơ cơ chứa nhóm công đức. Trì ấy là thành đức, đeo là diệt tội cấu, quả tốt của thế gian và xuất thế gian đâu không do đây ư! Như kinh Kim Cang Ðảnh Du Già Niệm Châu nói: Lúc bấy giờ đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn bảo Ngài Kim Cang Thủ rằng: Lành thay! Lành thay! Vì các Bồ Tát tu Chơn ngôn hạnh, nói các Nghi Quỹ, thương xót đời vị lai, hết thảy hữu tình, nói công đức thắng lợi niệm châu, do nghe như vậy, diệu ý thú ấy, mau chứng Tất Ðịa. Khi bấy giờ Ngài Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát bạch Phật mà nói: Thưa Thế Tôn! Con nay xin nói. Lúc bấy giờ Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát nói bài kệ rằng:
Châu biểu thắng quả của Bồ đề,
Nơi trong đoạn dứt hữu vi lậu.
Sợi dây xâu suốt biểu Quán âm,
Mẫu châu biểu tượng Vô Lượng Thọ.
Dùng lần qua khỏi tội vượt pháp,
Ðều do niệm châu chứa công đức.
Xa cừ niệm châu một bội phước.
Gỗ quý niệm châu hai bội phước.
Lấy thiết làm châu ba bội phước,
Thục đồng làm châu bốn bội phước.
Thủy tinh chơn châu và các bảo,
Thứ ấy niệm châu trăm bội phước.
Ngàn bội công đức Ðế Thích hột,
Kim Cang hạt châu trăm ức phước.
Sen hạt niệm châu ngàn trăm ức,
Bồ đề hạt châu vô số phước.
Phật bộ niệm châu Bồ đề hạt
Kim Cang bộ pháp Kim Cang hạt.
Bảo Hộ niệm tụng dùng các bảo,
Liên Hoa bộ châu dùng sen hạt.
Trong yết ma bộ làm niệm châu,
Các châu xen lộn nên xâu lại.
Niệm châu phân biệt có bốn món,
Thượng phẩm tối thắng và trung hạ.
Một ngàn tám mươi là bực trên,
Một trăm lẻ tám châu tối thắng.
Năm mươi bốn châu là bực trung,
Hai  mươi bảy châu là bực hạ.
Hai tay trì châu để ngang ngực,
Tịnh lặng lìa niệm tâm chuyên chú.
Bổn Tôn Du Già tâm một cảnh,
Ðều được thành tựu sự lý pháp.
Dù để đầu đảnh hay thân mang,
Hoặc đeo nơi cổ hay nơi tay.
Lời nói luận bàn thành niệm tụng,
Lấy đây niệm tụng ba tịnh nghiệp.
Do để đảnh đầu tịnh vô gián,
Do đeo trên cổ tịnh tứ trọng.
Nắm châu nơi tay trừ trọng tội,
Hay khiến hành giả mau thanh tịnh.
Nếu tu Chơn ngôn Ðà Ra Ni
Niệm các Như Lai Bồ Tát danh.
Ðược thu vô lượng thắng công đức,
Mong cầu thắng nguyện đều thành tựu.

(Ba bộ niệm tụng trì số châu, thủ ấn tướng nay sẽ phân biệt.)
Tô Tất Ðịa cúng dường pháp nói: Lấy tay mặt ngón tay, nắm ngón vô danh, ngón trỏ mở thẳng, ngón giữa ngón út hơi co, lấy ngón trỏ để sát một bên lóng trên ngón giữa. Ðây là thông ba bộ chấp số châu ấn. Liên hoa bộ chấp số châu ấn. Lấy tay mặt ngón cái nắm ngón tay giữa, còn ba ngón kia thì mở ra thẳng, tay trái cũng vậy. Kim Cang bộ chấp châu ấn. Lấy tay mặt nắm lại, mở thẳng ngón cái, nắm ngón trỏ, tay trái cũng vậy. Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: bảo người con gái nhỏ lấy chỉ xe lại thành 21 lần, thành rồi mới xâu hạt châu. Khi trì tụng, lấy ngón tay cái nắm một hạt châu, tụng một biến Chơn ngôn.

Monday, June 13, 2016

CHÚ TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN

PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN

Bất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.
Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.


PHƯƠNG PHÁP TÁN SA

Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.

THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀRANI

Nẵng Mồ Tát Phạ Ðát Tha Nghiệt Ða Nẫm Án Vĩ Bổ Lã Nghiệt Bệ Mạ Nĩ Bát ra Bệ Ðát Tha Ða Nễ Nại Xả Nỉnh Ma Nĩ Ma Nĩ Tô Bát ra Bệ Vĩ Ma Lê Ta Nghiệt Ra Nghiễm Tỷ Lệ Hồng Hồng Nhập phạ Lã Nhập Phạ Lã Một Ðà Vĩ Lô Chỉ Ðế Hủng Hế dạ Ðịa Sắc sỉ Ða Nghiệt Bệ Ta phạ Ha.
Thần chú này viết chữ Phạn trên chuông, trên bảng, trống, trên tràng phan, trên vách tường. Viết trên giấy, vải đeo mang trong thân, viết trên áo mặc vào thân, hoặc đọc hay tụng các chúng hữu tình nghe tiếng, nghe danh liền được tiêu trừ bao tội chướng, ngủ thức được yên ổn thân tâm, không loạn động. Các chúng sanh mắt thấy, tai nghe, thân chạm xúc đều được tiêu tội đắc phước. Ai thường trì, đọc,tụng, thân hiện tại không  bị các bịnh khổ, khi lâm chung được sanh về các nước Phật.